Thursday, July 14, 2011

Giới thiệu sách hay: Cha Mẹ Giỏi, Con Thông Minh

 Bài này tớ viết lâu rồi nhưng giờ post lại vào đây cho tập trung nhé.

Tớ đọc được một phần khá hay về kỹ thuật nói chuyện với con từ quyển Cha Mẹ Giỏi, Con Thông Minh (Thinking Parent, Thinking Child của Myrna B. Shure) nên muốn chia sẻ với các bậc phụ huynh.

Xét một tình huống như sau, hai bạn Mai và Lan cãi nhau gay gắt vì bộ đồ chơi nặn hình.

Lan: Đây là bột nặn của con, thế mà bạn Mai đòi lấy hết
Mai: Con chỉ lấy có mỗi một tẹo, Lan chẳng bao giờ chia sẻ cái gì hết, trong khi con có cái gì cũng chia cho bạn ấy.

Các bậc phụ huynh thường sẽ hành động theo một trong ba phương pháp như sau.

1. Phương pháp quyền lực:

“Đưa hết chỗ bột nặn đây cho mẹ. Nếu hai con không nhường nhau, mẹ sẽ cất đi và sẽ chẳng đừa nào có đất sét hết”.
“Lan, con không được ích kỷ như vậy”.
“Hai đứa mỗi đứa đi vào phòng mình đóng cửa lại tự suy nghĩ, không chơi bời gì nữa”.

Nghe cũng quen quen nhỉ hehe

Phương pháp này đã bỏ qua một phần cực kỳ quan trọng trong tình huống trên, đó là bản thân hai bạn Lan và Mai. Các bạn cảm thấy thế nào? Chắc chắn là vẫn giận dữ và bực tức như lúc trận chiến mới bắt đầu. Ko chỉ vậy, các bạn còn không học được cách tự mình giải quyết vấn đề. Điều này rất dễ đồng nghĩa với việc khi thời gian cách ly đã hết, các bạn lại cãi nhau về bộ bột nặn, hoặc về một thứ khác. Điều nguy hiểm trong phương pháp này là dần dần, trẻ con sẽ bị cảm thấy bị chế ngự.

2. Phương pháp gợi ý:

“Con nên hỏi xin bạn Mai cho con chơi cùng với đi”
“Con nên chia sẻ đồ chơi của con với Lan đi”

3. Phương pháp giải thích

“Nếu hai con không học cách chia sẻ, sẽ không có ai chơi với các con nữa, và các con sẽ không có ai làm bạn cả”.

Mấy câu này nghe cũng quen không kém

Cả hai phương pháp 2 và 3 đều dựa trên giả sử rằng các bạn hiểu được việc mình làm có tác động làm tổn thương bản thân và người khác. Phương pháp 3 thường đi đôi với thông điệp “Mẹ“, ví dụ “Mẹ không muốn/không thích nghe con cãi nhau với bạn như vậy“.

Phương pháp 2 và 3 tuy có hiệu quả tích cực hơn là phương pháp 1, nhưng trong cả 3 phương pháp trên các bậc phụ huynh đều nghĩ “hộ” con mình. Thay vì yêu cầu các con tự mình giải quyết vấn đề, họ độc thoại một chiều. Như vậy là đang “bảo”, chứ không phải đang “trò chuyện” với con. Rất có khả năng các bạn nghe tai từ tai này lọt qua tai kia. Mà cuối cùng, các phụ huynh vẫn sẽ phát cáu vì con mình ko nghe lời.

4. Phương pháp trò chuyện

Phương pháp này giải quyết được cả mong muốn lẫn khả năng dễ bị tổn thương của cả cha mẹ và con cái. Đặt lại tình huống như sau:

Lan: Đây là bột nặn của con, thế mà bạn Mai đòi lấy hết
Mai: Con chỉ lấy có mỗi một tẹo, Lan chẳng bao giờ chia sẻ cái gì hết, trong khi con có cái gì cũng chia cho bạn ấy.
Mẹ: Lan, hai bạn đang cãi nhau đấy. Bây giờ con cảm thấy thế nào?
Lan: Con giận lắm rồi đấy.
Mẹ: Mai, con cảm thấy thế nào?
Mai: Con cũng cáu lắm rồi đấy. Lan ích kỷ, ko bao giờ chịu chia sẻ gì cả.
Mẹ: Ừ, cãi nhau cũng là một cách để giải quyết vấn đề rắc rối này. Vậy con nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra?
Lan: Bọn con sẽ đánh nhau.
Mẹ: Hai bạn thử nghĩ xem có cách nào khác để giải quyết vấn đề này ko, để cả hai đều ko phải đánh nhau và không thấy bực mình nữa?
Mai (suy nghĩ): Con có thể lấy bột nặn màu đỏ, còn cho Lan lấy màu xanh, sau đó thì bọn con sẽ đổi cho nhau.
Mẹ: Lan, như vậy có được không?
Lan: Thôi được, thế thì con sẽ nặn quả táo xanh.
Mai: Con sẽ nặn quả táo đỏ.

Người mẹ ở đây không hề nói tới các bạn, thay vào đó mẹ chỉ đặt câu hỏi. Kỹ thuật này ko chỉ giúp 2 bạn tự giải quyết vấn đề, mà con giúp người mẹ hiểu được vấn đề là gì, xét trên quan điểm của các bạn. Nó cũng cho Mai cơ hội thể hiện cảm xúc của mình rất bực vì thường ngày vẫn chia mọi thứ cho Lan mà Lan ko thèm chia lại. “Khác” là một keyword trong kỹ thuật trò chuyện.

Đương nhiên sự thực thì chưa chắc các bạn nhí này sẽ giải quyết theo y sách đâu, nhưng cũng là một phương pháp khá hay để tham khảo và thử áp dụng.

Friday, July 1, 2011

Giới thiệu sách hay: Nói với trẻ như thế nào

Post lại bài viết từ tháng 8/2008.


Đây là một quyển sách mà đọc xong mình hết sức tâm đắc. Đoán thế nào cũng phải có bản gốc tiếng Anh, nhưng trong sách hoàn toàn không có lấy một câu giới thiệu về tác giả. Thật là bực mình, chắc là sách Việt Nam dịch trộm đây mà. Nhưng phải công nhận người dịch (Phạm Anh Tuấn) dịch rất tốt. Mò mẫm trên mạng mất một lúc lâu mới tìm ra nguyên bản tiếng Anh: "How to talk so kids can learn -- at home and in school", tác giả Adele Faber và Elaine Mazlish. Đầu đề tiếng Việt là "Nói với trẻ như thế nào? - Những trải nghiệm thú vị của người "gõ đầu trẻ"", làm sao mà tìm ra đây? Hôm sau mình chạy ra cửa hàng sách, không tìm được quyển này, nhưng lại thấy "How to Talk So Kids Will Listen & Listen So Kids Will Talk", xem qua thấy cấu trúc khá giống nên mua về. Phải nói là mình rất tâm đắc với cả 2 quyển, quyển thứ nhất để áp dụng trong môi trường sư phạm, quyển thứ hai để áp dụng trong gia đình. Cái hay nhất mình thấy là hầu hết tất cả các nguyên tắc được nêu ra đều có thể áp dụng cho bất cứ ai chứ không riêng gì chỉ cho trẻ con. Tóm lược lại các nguyên tắc như sau nhé:

-----------------------------------------------------------------------------------

*** Trẻ em cần được người khác công nhận và tôn trọng cảm xúc của chúng.
Trẻ: Chỉ có vài lỗi nhỏ mà con bị điểm kém trong bài thi vừa rồi
Người lớn: Không sao đâu, con đừng lo lắng. Lần sau con sẽ làm tốt hơn.

Vậy là người lớn đã gạt bỏ cảm xúc của trẻ rồi. Sau câu nói trên trẻ không những không còn gì để nói thêm mà vẫn giữ trong lòng cảm giác nặng nề vì bị điểm kém kèm với sự lo lắng, thế nhỡ lần sau mình vẫn làm kém thì sao, bố mẹ có mắng mình không?

Thay vì gạt bỏ cảm xúc của trẻ, bạn hãy công nhận nó "Chắc là con thất vọng lắm. Con biết câu trả lời nhưng lại bị mất điểm vì những lỗi nhỏ nhặt". Như vậy là bạn khuyến khích trẻ giãi bày thêm. Hãy lắng nghe tâm sự của trẻ và biểu lộ sự chú ý bằng những câu ngắn gọn như "À", "Ừ", "Thế à", "Mẹ hiểu rồi", ...

-----------------------------------------------------------------------------------

*** Cách khuyến khích trẻ cộng tác
Người lớn: Ai làm cả cái phòng này bừa bộn như thế này?

Thay vì tra hỏi và chỉ trích, bạn có thể mô tả vấn đề "Mẹ thấy quần áo đồ chơi trên giường và cả dưới đất nữa". Hãy đưa ra thông tin "Quần áo ở dưới đất mà bị giẫm lên thì sẽ nhàu nát và bẩn hết đấy". Hãy đưa ra sự lựa chọn "Con có thể dọn dẹp phòng luôn bây giờ hoặc là để ăn cơm tối xong". Hãy diễn tả cảm xúc của bạn "Mẹ không thích nhìn thấy phòng ngủ bừa bộn đâu".

-----------------------------------------------------------------------------------

*** Những cách thay cho sự trừng phạt
Người lớn: Mẹ đã bảo là con đừng có chạy lung tung trong siêu thị nữa cơ mà. Tối về mẹ mách với bố bố sẽ phạt con đấy. Con hư như thế tối nay mẹ không cho con xem TV nữa...

Thay vì mắng mỏ và dọa nạt, bạn hãy chỉ ra một cách làm tốt hơn "Hay là con chọn cho mẹ 3 quả chanh thật to nhé". Bạn hãy thể hiện sự không vừa ý của mình (nhưng không đàn áp) "Mẹ rất không vừa lòng. Con chạy đi chạy lại như vậy làm phiền tới mọi người trong siêu thị đấy". Bạn có thể cho trẻ sự lựa chọn "Con chọn đi nhé: một là con ngồi yên trong xe đẩy, hai là con đi lại từ tốn bên cạnh mẹ". Bạn cũng có thể để trẻ lãnh nhận hậu quả của thái độ sai trái ấy "Hôm nay con ở nhà, không đi chợ với mẹ nữa. Con có biết lý do tại sao hay không?"

-----------------------------------------------------------------------------------

*** Khuyến khích tính tự lập
- Hãy để trẻ tự lựa chọn "Hôm nay con thích mặc áo màu xanh hay áo màu đỏ?".
- Đừng quá nhanh chóng trả lời tất cả các câu hỏi của trẻ "Câu hỏi của con hay đấy. Thế con thì nghĩ thế nào?"
- Khuyến khích trẻ tìm sự giúp đỡ từ bên ngoài "Hay là con thử hỏi bác nha sĩ xem bác ấy bảo sao về chuyện nhai kẹo cao su"

-----------------------------------------------------------------------------------

*** Cách khen ngợi trẻ
Trẻ: Mẹ ơi, con làm thơ về cái tàu hỏa này, mẹ thấy có hay không?
Người lớn: Hay quá! Con sẽ trở thành nhà thơ nổi tiếng đấy!

Thay vì đánh giá, bạn hãy mô tả điều bạn thấy hoặc nghe "Con diễn tả được nhịp điệu xình xịch của tàu hỏa, biết dùng từ vần hợp với nhau"; hãy mô tả cảm xúc của bạn "Bài thơ khiến mẹ có cảm tưởng đang ngồi trên tàu hỏa đi qua khu rừng xanh"

-----------------------------------------------------------------------------------

*** Cách phê bình trẻ
Người lớn: Con viết sai lỗi chính tả rồi. Con phải cẩn thận chứ.

Thay vì chê trách, bạn hãy chỉ ra điều cần phải làm "bài thơ của con chỉ cần sửa lỗi chính tả từ "toa se" và "hàng háo" là có thể đăng trên báo tường rồi"

-----------------------------------------------------------------------------------

*** Giải phóng trẻ khỏi những ấn tượng do người khác áp đặt
Người lớn: Con là "con vẹt", không ai tranh nói kịp với con cả.

Thay vì gây ấn tượng, bạn hãy tìm cơ hội giúp trẻ thấy khía cạnh tốt đẹp của mình "Dù con còn nhiều điều muốn nói nhưng con biết ngưng lại để nhường cho người khác, vậy là con biết cách tự chủ đấy". Bạn hãy đặt trẻ vào tình huống khách quan để trẻ nhìn rõ về mình "Mẹ muốn con làm người điều khiển chương trình và giúp mọi người có cơ hội phát biểu nhé". Bạn hãy để trẻ nghe bạn nói tốt về trẻ "Tâm có nhiều ý kiến hay lắm nên khó mà im lặng được, thế mà chú thấy bạn ấy vẫn giữ im lặng đấy!"

*******************************************************************************
Trên đây chỉ là một số rất ít mẫu các cách xử lý tình huống thôi. Những quyển như thế này phải đọc đi đọc lại mới nhớ mà thực hành được.

Monday, April 4, 2011

Ngỗng và Vịt



 (thơ và ảnh sưu tầm)

Ngỗng ta không chịu học
Lại khoe biết chữ rồi
Khi bị đưa sách ngược
Ngỗng cứ tưởng là xuôi
Cứ giả vờ đọc nhẩm
Làm vịt con tức cười !
Vịt con khuyên một hồi
Ngỗng ngỗng ơi học ! học ! ...
Ngỗng ngỗng ơi ! học thôi !

Sunday, April 3, 2011

Tiếng động quanh em



(thơ và ảnh sưu tầm)
 
Kính koong kính koong
Là tiếng xe đạp
Pin pin pin pin
Là tiếng ô tô
Píp píp nhỏ hơn
Là xe máy đấy
Tu tu xình xịch
Là tàu hỏa đi
Tiếng vang ù ù...
Là máy bay nhé
Tu tu đầu sóng
Là tàu thủy cơ
Phành phạch, phành phạch
Ca nô rẽ nước
Tiếng khua trong nước
Là tiếng thuyền nan
Tiếng cười vang ròn
Khi em vui đấy
Em yêu biết mấy
Tiếng động quanh em.

Saturday, April 2, 2011

Thỏ Bông bị ốm


(thơ và ảnh sưu tầm)
 
Thỏ Bông bị ốm
Chốc chốc kêu la
Miệng cứ xuýt xoa
"Mẹ ơi, đau quá!"

Thỏ mẹ vội vã
Bế Bông trên tay
Đến bệnh viện ngay
Nhờ bác sỹ khám

Bác sỹ sờ nắn
Hỏi "Đau chỗ nào?"
Thỏ Bông thều thào:
"Đau quanh vùng rốn"

Hỏi "Đã ăn uống
Những thứ gì nào?"
Thỏ Bông thều thào:
"Ăn me với sấu...

Uống nước không nấu
Múc ở ngoài ao
Bụng sôi ào ào
Ruột đau như cắt"

Bác sỹ gật gật
Đặt chiếc ống nghe
Khám xong liền ghi:
"Đau vì ăn bậy"

Friday, April 1, 2011

Mèo đi câu cá



(thơ & ảnh sưu tầm)
 
Anh em mèo trắng
Vác giỏ đi câu
Em ngồi bờ ao
Anh ra sông cái

Hiu hiu gió thổi
Buồn ngủ quá chừng
Mèo anh ngả lưng
Làm luôn một giấc
Thầm nghiêm thầm chắc
Đã có em rồi.

Mèo em đang ngồi
Thấy bầy thỏ bạn
Đùa chơi múa lượn
Vui quá là vui

Mèo nghĩ: ồ thôi
Anh câu cũng đủ
Nghĩ rồi hớn hở
Nhập bọn vui chơi

Lúc ông mặt trời
Xuống núi đi ngủ
Đôi mèo hối hả
Quay về lều tranh
Giỏ em giỏ anh
Không con cá nhỏ
Cả hai nhăn nhó
Cùng khóc meo meo...

Thursday, December 30, 2010

Cách chữa cận thị, viễn thị, loạn thị bằng phương pháp tự nhiên của Dr. Bates

Cảm ơn mẹ RichFather đã bỏ rất nhiều công sức tư vấn cho mọi người về phương pháp này. Vô cùng khâm phục chị ấy, vì sự kiên nhẫn chữa bệnh cho con và luôn hết lòng giúp đỡ và giải đáp các thắc mắc của mọi người về vấn đề này. Dưới đây là bản tóm tắt 15 trang của topic trên WTT mà tôi thu thập lại để mọi người tiện theo dõi. Đây là link gốc của topic.

Theo phương pháp này, thị lực của mắt hoàn toàn có thể cải thiện được bằng phương pháp tập tự nhiên, không dùng kính.

Lý thuyết của việc sử dụng mắt:

- Mắt là 1 bộ phận của cơ thể, (lấy thí dụ so sánh với chân), mắt nếu bị sử dụng nhiều và không đúng cách cũng bị mỏi, dẫn tới thị lực kém. Việc mắt bị mỏi trong 1 thời gian không có nghĩa là mắt không trở lại được như trước nữa. Kiểu như chân ý, nếu chân bị mỏi thì không có nghĩa là ngay lập tức ta cứ phải luôn dùng nạng hoặc vào bệnh viện để phẫu thuật chân. Chúng ta sẽ phải nhận thức được việc chúng ta làm nó mỏi, rồi cho nó nghỉ ngơi, thư giãn, rồi tập các động tác vận động khác cho nó, thế là nó lại trở lại bình thường thôi.

- Mắt nhìn mà không phải cố khi nó được nhìn ở khoảng cách >2.1m, nghĩa là mắt sẽ không phải điều tiết khi nhìn ra xa, nhìn gần khi đọc sách là mắt phải điều tiết rất nhiều. Vậy các bạn hãy thường xuyên nhìn ra xa. Tiếc là nguyên tắc này chẳng bác sĩ nào nói cho bạn cả.

- Vì mắt là 1 bộ phận của cơ thể nên nếu chúng ta muốn có mắt khỏe thì chúng ta cần có thể lực tốt. Vậy hãy để ý đến việc vận động của bạn, thường xuyên vận động đi nhé, đừng ngồi 1 chỗ.

Dùng kính lỗ: chỉ dùng khi nhìn lên bảng, những chữ bé thôi, còn nếu chữ to thì bỏ kính, nhìn bằng mắt thường. Tuyệt đối không nheo mắt, mà nên chớp nhẹ mắt thường xuyên. (Kiểm tra bằng cách lấy tay đặt vào thái dương, thấy da ở thái dương không chuyển động khi chớp mắt là được).

Thời gian đầu mới tập thì đeo kính lỗ khi nhìn xa (bảng, TV), mục đích là để ánh sáng chiếu qua lỗ, hội tụ đúng vào võng mạc, làm cho mắt không phải cố nhìn. Sau một thời gian thì dùng ít đi. Dần dần là bỏ luôn cả kính lỗ. Khi đọc bài, làm bài ở bàn thì không dùng kính nào cả.

http://www.pinhole-glasses.com/order.htm








Về việc mua kính giảm độ cận thì mình thấy thế này. trong file "tài liệu chữa cận thị của Mỹ" họ ghi thế này:

1- Bỏ hẳn kính khi nhìn xa (nói chung là họ khuyên bỏ hẳn kính, nhưng với những người đã quen đeo kính thì ý kiến của mình là dùng kính lỗ pinhole thay thế tạm thời).

2- Khi nhìn gần (để đọc sách, làm việc trên máy tính): đeo kính giảm đi 3 độ, ví dụ như bạn gì đó cận 5.5 điốp thì nên đeo kính 2.5 điốp. Bé nhà mình hồi đầu 4 điốp thì đáng lẽ đeo kính 1.0 điốp khi đọc sách nhưng mình cũng cho bỏ luôn. BÉ nào cận 2 điốp thì đeo kính viễn 1 điốp (kính viễn nhé, không phải kính cận). Cứ nguyên tắc trừ đi 3 điốp mà tính. Về lý luận của việc này thì mời các mẹ đọc trong tài liệu mà mình đã gửi nhé.

Lúc mới tập với bảng thị lực thì con có thể nhìn chưa rõ. Bạn in 2 bảng giống nhau, 1 bảng treo ở khoảng cách xa (mấy m tùy các mẹ), 1 bảng thì đặt ở khoảng cách gần, úp cái bảng ở khoảng cách gần xuống. Trường hợp đến 1 dòng chữ nào đó con không nhìn thấy, thì các mẹ lật cái bảng ở khoảng cách gần lên, cho con nhìn, vẽ bằng mũi với các chữ cái của dòng đó, lưu ý là đứng hoặc ngồi đúng tầm nhìn nhé. Sau đó lật úp cái bảng thị lực ở gần lại, bảo con nhìn ra cái bảng thị lực ở xa, xem con có nhìn thấy không. Đừng sợ con học thuộc lòng các chữ cái, bạn hoàn toàn biết con có nhìn thấy hay không bằng cách chỉ lung tung các chữ cái, không nhất thiết cứ chỉ lần lượt từ trái qua phải.

Các bài tập mắt (lấy từ trang http://www.cleareyesight.info/)
1- Palming (thư giãn): nhắm mắt, úp 2 lòng bàn tay vào mắt, 10-15phút/lần, làm nhiều lần trong ngày càng tốt, con mình chỉ làm được 1 - 2 lần/ngày
2- Sưởi ánh nắng mặt trời cho mắt, đưng 10-15 phút dưới ánh nắng, nhắm mắt lại.
3- Tập mắt hàng ngày với bảng thị lực (mua 3 loậi bảng, hết khoang 200.000đ)
4- Đắp lần lượt khăn nưoc ấm và lạnh trong 10 phut
5- Dùng kính lỗ (pinhole glasses) khi nhìn xa (xem ti vi, nhìn bảng ở lóp).
6- Bỏ hoàn toàn kính cận.

Bài 1: Palming - Thư giãn mắt
- Nhắm mắt, úp 2 bàn tay vào mắt, lòng bàn tay trái che toàn bộ hốc mắt trái, lòng bàn tay phải che toàn bộ hốc mắt phải, 5 ngón tay trái để chéo 5 ngón tay phải – để chính giữa trán, tay trái để bên trong, tay phải để bên ngoài.

- Nghĩ đến 1 điều vui vẻ, thư giãn càng lâu càng tốt, ngày vài lần, mỗi lần 10-15 phút.

(Khi thư giãn, lúc đầu sẽ thấy những vệt sáng ảo, 1 lúc lâu sẽ thấy một màu tối đen, khi đó là đạt yêu cầu. Lúc bé ở trường, cũng có thể thỉnh thoảng làm như vậy trong vòng 1-2 phút cũng tốt).








Bài 2: Mát xa mắt

Nhắm mắt, lấy 2 ngón tay trỏ và giữa, di chuyển 10-15 vòng quanh mắt (xoa vào cái xương của hốc mắt, đừng đè vào con ngươi) bắt đầu từ đầu lông mày, kết thúc cũng ở đấy sau khi đã xoa đủ vòng. Làm 1 tiếng/lần để mắt được tăng cường lưu thông máu. Cách này được áp dụng trong cả lúc tập mắt bằng bảng thị lực nữa, nếu thấy mỏi mắt khi nhìn vào bảng thị lực thì nhắm mắt, xoa quanh vài vòng.

Bài 3: Đắp mắt

Dùng 2 khăn, 1 ấm và 1 lạnh để đắp mắt. Khăn hơi dầy để giữ được nhiệt độ lâu.
Cách làm: nằm xuống, nhắm mắt, đắp khăn ấm trước khoảng 2 phút, đến khi hết ấm thì thôi, sau đó thay bằng khăn lạnh. Với khăn lạnh thì đắp 1 mặt, đươc 1 lúc thấy nó ấm lên, lật mặt kia, hết lạnh thì lại đắp khăn ấm. Thay liên tục trong khoảng 10 phút.

Bài 4: Tập mắt với bảng thị lực

1- Dán bảng thị lực lên tường, hoặc để trên giá vẽ sao cho lượng ánh sáng đủ lớn chiếu vào bảng thị lực. Tốt nhất là tập ngoài trời với ánh sáng tốt. Khi tập trong nhà thì dùng 1 cái đèn bàn (loại bóng dài hình chữ nhật của Rạng Đông), chiếu vào bảng thị lực, điều chỉnh vị trí của đèn chiếu đúng đến dòng chữ hoặc chữ cái đang tập.

2- Đứng (hoặc ngồi) thẳng và đúng tầm nhìn với bảng tập mắt. Độ cao của bảng thị lực so với mặt đất (hoặc dòng chữ trên bảng thị lực) phải trùng với độ cao của mắt người tập so với mặt đất.

3- Khoảng cách tập: Khi mới tập có thể đứng gần để nhìn, sau khi nhìn rõ chữ thì đưa bảng ra xa dần. Khi nhìn thấy chữ cái nhỏ nhất ở khoảng cách 5m là đạt 10/10.

4- Cách tập:
Nhờ người chỉ vào từng chữ cái cho mình đọc, từ chữ to đến chữ nhỏ. Nhìn thoải mái, không cố, chớp mắt đều, nếu chưa thấy chữ thì nhìn đi chỗ khác (cũng đúng tầm nhìn), rồi nhìn lại vào bảng chữ.

Không nhìn chăm chú vào 1 chữ lâu, nhìn không thấy thì chuyển sang chữ bên cạnh, để mắt không phải gắng.

Tập được 1 lần ghi lại vào sổ xem nhìn đến dòng nào, sau đó thư giãn 10 phút hoặc hơn. Xong lại nhìn vào bảng thị lực, ghi lại dòng nhìn thấy sau khi thư giãn (thường là sau khi thư giãn sẽ thấy được 1 số chữ mà trước đây không thấy, có thể nhìn rõ trong vài giây thôi, sau đó lại bị mờ. Đây là dấu hiệu tiến bộ. Tần suất nhìn rõ ngày càng tăng, khoảng cách xa dần).
Có thể mát xa hoặc đắp khăn để thư giãn.

Thời gian đầu phải tập nhiều một chút đối với những người đã đeo kính lâu. Tập nhìn bằng 2 mắt, rồi tập với từng mắt. Khi tập mắt trái thì khum tay che mắt phải đi, (mắt phải vẫn mở), để mắt được tự nhiên. Mắt nào yếu hơn thì tập nhiều hơn.

Người chỉ chữ: có thể chỉ lung tung các chữ cái, không nhất thiết phải lần lượt.
Bạn tập đến khi bạn nhìn thấy thoải mái ở cự ly nào đó, sau đó bắt đầu lùi xa thêm 30cm, cứ dần dần như vậy.

Bên trái của bảng thị lực có ghi số mét mà người bình thường sẽ nhìn thấy chữ đó khi đứng ở khoảng cách đó. Lấy số đó làm mục tiêu để tiến bộ.

Bài 5: Thư giãn mắt theo cách vẽ bằng mũi ( nosefeather)

Mắt chỉ được thư giãn khi nhìn từ khoảng cách 2.1m trở lên, chính vì vậy, thường xuyên để mắt được nhìn xa. Nhìn xa bằng cách vẽ các hình ở xa bằng mũi. Cách làm như sau:

Tưởng tượng là có 1 cái bút màu gắn ở mũi mình. Vẽ và tô màu cho các vật ở các cự ly xa khác nhau bằng cái bút này, từ 2.1m trở lên. Trong quá trình vẽ thì mũi là vật di chuyển theo hình thù của các vật được vẽ. Vẽ xong, rồi tô màu.

Vẽ tất cả những gì có thể vẽ được ở phía xa, để cho mắt thư giãn. Lưu ý là vẽ bằng mũi, không phải bằng mắt (tuy mắt vẫn mở và chớp bình thường), và phải đúng tầm nhìn. Nếu vẽ hình bé thì đầu, vai, cổ đều dịch chuyển. Nếu vẽ các hình to như cây xanh thì cả người phải dịch chuyển, đi đi lại lại.

Bài tập nosefeather tập khi mở mắt để vẽ cây cối, tháp truyền hình, trăng sao…, đồng thời cũng tập bài tập nosefeather với các chữ cái và nhắm mắt khi tập. Nghĩa là vừa nhắm mắt vừa tưởng tượng vẽ các chữ cái bằng mũi, mỗi chữ 6 lần.

Bài 6: Chớp mắt thường xuyên

Trong quá trình làm việc mắt các bạn nhớ chớp mắt thường xuyên. Việc này rất quan trọng, đừng để mắt chăm chú quá, mà không chớp mắt. Chớp mắt nhẹ nhàng, như cánh bướm đập, không làm căng các cơ ở xung quanh mắt.

Bài 7: Sưởi nắng cho mắt

1: Đứng một chỗ, dưới ánh nắng, nhắm mắt và quay đầu, mắt, mặt/đầu dịch chuyển cùng hướng, cùng lúc
- Nghiêng đầu từ trái sang phải, từ phải sang trái
Cảm thấy mặt trời di chuyển giữa 2 mắt, di chuyển trên mặt
- Ngửa đầu lên trên, cúi xuống dưới.
- Xoay vòng đầu theo chiều kim đồng hồ, ngược chiều kim đồng hồ

2: mắt nhắm, đứng
- Mặt hướng về phía mặt trời, cả người nghiêng về bên trái, bên phải
- Xoay người

3: Ngồi ghế tựa, hướng về phía mặt trời. Mắt nhắm, nghĩ đến 1 điều gì đó mình thích. Thỉnh thoảng xoay đầu sang trái, sang phải.
Có thể dùng ghế kiểu vừa nằm được vừa ngồi, thay đổi các tư thế cho thoải mái.

Bài 8 : Tập nghiêng người

Đứng thẳng, rồi nghiêng người sang trái, sang phải. Khi nghiêng sang bên nào thì trọng tâm dồn vào chân bên đó và cả người nghiêng sang bên đó. Nghiêng lần lượt sang trái, rồi sang phải, không dừng lại 1giây nào khi bạn ở vị trí thẳng đứng, liên tục như thế 30 lần. Ánh mắt cũng lần lượt dịch chuyển sang trái, sang phải cùng hướng với việc nghiêng người.








Bài 9: Tập quay người

Vung tay, quay mạnh người. Người quay đi đâu thì mắt nhìn theo hướng đó. Khi quay sang bên nào thì gót chân nhấc lên, mũi chân vẫn chạm đất.








Bài 10: Nhấc tay chân: nguyên tắc tay nọ, chân kia

Video: http://www.youtube.com/watch?v=lnMiWnZkD_M














Tham khảo trang http://www.cleareyesight.info/id15.html cho bài tập 8, 9, 10.

Bài 11: Nguyên tắc 10-10-10 khi nhìn gần

Khi làm việc với cự ly gần (đọc sách, máy tính), cứ làm việc được khoảng 10 phút thì đưa mắt nhìn xa với khoảng cách ít nhất là 10 feet (khoảng 3m), trong vòng tối thiểu là 10 giây.

Bài 12: Bài tập với màu sắc (Color Light Treatment)
http://www.cleareyesight.info/id37.html
Màu đỏ, cam, vàng tác động lên bán cầu não trái và giúp tầm nhìn gần được rõ hơn.
Màu xanh nước biển, tím, tím nhạt tác động lên bán cầu não phải và giúp tầm nhìn xa được rõ hơn.
Màu xanh lá cây tác động và hợp nhất cả hai bán cầu não trái và phải và giúp cả tầm nhìn gần và xa được rõ hơn.
Vì vậy, tập nhìn vào các vật có màu xanh lá cây như cây cối là dễ dàng và tốt cho cả hai tầm nhìn.

Bài 13: Bài tập di chuyển mắt (Switching and shifting)
Bài tập này được hướng dẫn cụ thể ở đường link này
http://www.cleareyesight.info/id8.html

Bài tập này kết hợp 2 bài tập nhỏ đó là shifting (di chuyển theo hình thù đồ vật) và switching (nhìn ở các tầm nhìn khác nhau: gần – trung bình – xa):

- Switching có nghĩa là thay đổi hướng mắt nhìn từ 1 vật ở khoảng cách này sang 1 vật khác ở khoảng cách khác.
Ví dụ: thay đổi ánh mắt nhìn từ đồ vật trước mặt mình, sang đồ vật ở khoảng cách xa hơn, rồi sang 1 đồ vật khác ở khoảng cách xa nữa (ví dụ: nhìn 1 đồ vật ở khoảng cách dưới 5m, sau đó nhìn chuyển sang 1 đồ vật ở khoảng cách 10m, rồi nhìn sang hẳn 1 đồ vật khác ở khoảng cách >20m (nhìn trăng, sao chẳng hạn))
Mắt nhìn ở khoảng cách gần – rồi chuyển sang khoảng cách trung bình – rồi chuyển sang khoảng cách xa, làm ngược lại.
Lưu ý khi nhìn các vật phải để đúng tầm nhìn (central visual fixation) như bài tập trước mà mình hướng dẫn.

- Shifting: có nghĩa là di chuyển mắt theo hình thù của vật được nhìn, kiểu như là tô màu cái vật đó bằng mắt ý.
Trong quá trình làm đưa mắt nhìn một cách nhẹ nhàng, chớp mắt thường xuyên

Bài tập này hơi giống bài tập vẽ bằng mũi, nhưng lần này là di chuyển mắt, mắt mở, nhìn theo các vật, không nhắm.

Bài tập 14 (bài cuối cùng): Bài tập bằng bụng
Hít vào bằng mũi sao cho hơi thở vào bụng, bụng sẽ phồng lên (lưu ý bụng phồng lên do khí vào chứ không phải do mình cố tình làm cái bụng phồng lên).
Thở ra bằng mũi, thở ra dần dần cho hết khí trong bụng.
Việc chỉnh font chữ cho to lên khi dùng máy tính là đúng sách. Dưới đây là lời khuyên của các chuyên gia nước ngoài về việc tập làm quen với việc bỏ kính

NHỮNG MẸO NHỎ ĐỂ GIÚP THỊ LỰC TỐT HƠN MÀ KHÔNG CẦN ĐEO KÍNH

Mẹo thứ nhất

Cố gắng không đeo kiếng suốt ngày. Bạn nên nghĩ rằng mắt kính của bạn chỉ là công cụ mà bạn chỉ dùng đến khi cần thiết. Dán một miếng băng để luôn nhắc nhở bạn về diều này trước màn hình vi tính. Viết dòng nhắc nhở lên bookmark (dãy băng để đánh số trang) của bạn. Hãy tỉnh táo khi sử dụng cặp kính.

*Chắc rằng luôn giữ an toàn trong đầu bạn. Đừng bao giờ thực hiện một hành động có thể gây nguy hiểm cho chính mình và những người khác nếu không có kính

Mẹo thứ hai

Nếu bạn không thể nhìn rõ màn hình vi tính mà không có kính, hãy phóng to phong chữ của internet browser. Để làm được điều này, hãy giữ nút CTRL, đồng thời cuộn bánh xe nhỏ trên đầu chuột của bạn (cuộn lên hoặc xuống).

Mỗi lần cuộn về phía trước sẽ làm tăng kích cỡ phong chữ lên. Và để giảm kích cỡ phong chữ, tiếp tục giữ nút CTRL và cuộn về phía bạn

Mẹo thứ ba

Nếu bạn thích đọc sách, cố gắng lấy sách trong thư viện với những cỡ in lớn hơn. Điều này cho phép bạn đọc sách mà không cần kiếng.
Những việc nhỏ này nếu thực hiện lâu dài sẽ bảo vệ thị lực của bạn trong những năm sau này.

Nên nhớ rằng, những bước đầu tiên để giúp thị lực của bạn tốt hơn mà không dựa vào cặp kính. Chỉ sử dụng kính khi bạn cần đến chúng. Phóng to các phong chữ của màn hình vi tính và bỏ kính khi đang làm việc với máy tính. Và nếu bạn đọc nhiều sách, mua hoặc mượn sách từ thư viện với bản in lớn hơn

Những mẹo này là cách dễ dàng có hiệu quả để giúp bạn cải thiện thị lực một cách tự nhiên